Fialda Web Terminal, nền tảng giao dịch chứng khoán All-in-One, social trading platform, mạng xã hội chứng khoán số 1 Việt Nam, nơi chia sẻ ý tưởng và kiến thức đầu tư chứng khoán, kết nối với cộng đồng đầu tư chứng khoán sôi động nhất Việt Nam. Fialda là công cụ hỗ trợ đầu tư chứng khoán All-in-One trên nền Web, cung cấp cơ sở dữ liệu tài chính, chứng khoán, tin tức, hồ sơ doanh nghiệp, dữ liệu giá real-time chính xác, đầy đủ và hệ thống nhất Việt Nam. Fialda cung cấp các công cụ/tính năng: bảng giá chứng khoán siêu nhanh, giao dịch chứng khoán phái sinh, lọc cổ phiếu thông minh, F-Data, FData, dữ liệu phân tích kỹ thuật, dữ liệu PTKT, cập nhật dữ liệu AmiBroker, cập nhật dữ liệu Metastock, AmiBroker Plugin, cập nhật dữ liệu Forex, Cảnh báo cổ phiếu real-time...dựa trên công nghệ 4.0 Big Data và AI

Cung cấp giải pháp truyền thông, dịch vụ thông tin tài chính, dữ liệu thị trường cho các nhà đầu tư cá nhân & tổ chức, doanh nghiệp Việt Nam và Thế Giới.

Phát triển các giải pháp giao dịch thông minh, chuyên sâu, được robot hóa dựa trên nền tảng công nghệ mới nhất AI & Big Data.

Tạo dựng một môi trường kinh doanh số, nơi tất cả mọi người đều có cơ hội phát triển sự thịnh vương cho bản thân.

Xây dựng một cộng đồng kết nối toàn bộ nhà đầu tư với chuyên viên môi giới, chuyên gia và doanh nghiệp.

Fialda Web Terminal

Fialda là Kênh thông tin chuyên sâu về các lĩnh vực kinh tế, tài chính & chứng khoán được cập nhật liên tục, chính xác và đầy đủ nhất Việt Nam áp dụng công nghệ 4.0 AI & Big Data. Tin tức và sự kiện doanh nghiệp được cập nhật liên tục. Thông tin về các giao diện cổ đông nội bộ, nhận định thị trường, phân tích chứng khoán qua lăng kính kỹ thuật, thông tin nhịp đập thị trường được cập nhật đầy đủ, liên tục và chính xác.

Bức tranh nợ xấu đầu năm 2026 tạo ra cảm giác khá trái chiều. Nếu nhìn vào tỷ lệ nợ xấu, hệ thống ngân hàng niêm yết dường như đã đi qua giai đoạn căng thẳng nhất khi NPL toàn ngành chỉ còn quanh 1.99%, chỉ tăng nhẹ so với thời điểm cuối năm ngoái nhưng thấp hơn đáng kể so với vùng đỉnh trong năm 2024. Tuy nhiên, nếu tổng nợ xấu của các ngân hàng niêm yết vẫn tăng lên khoảng 292.2 ngàn tỷ đồng, cao hơn cuối năm trước và cũng là mức lớn nhất trong lịch sử.

Điều quan trọng hơn là nợ xấu phản ánh sức khỏe của khách hàng vay, còn phản ánh cách ngân hàng quản trị bảng cân đối. Một ngân hàng có thể làm giảm tỷ lệ nợ xấu nhờ tăng trưởng tín dụng, xử lý nợ, thu hồi tài sản bảo đảm hoặc xóa các khoản nợ đã trích lập ra khỏi bảng cân đối. Ngược lại, một ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu tăng mạnh chưa chắc là vì chất lượng tín dụng mới xấu đi đột ngột, mà có thể do ngân hàng chủ động phân loại lại nợ, tăng trích lập và đưa các tồn đọng cũ ra ánh sáng. Vì vậy, câu hỏi quan trọng là nợ xấu đang tăng hay giảm, ngân hàng đang làm gì để xử lý phần rủi ro nằm sau các con số đó.

Tỷ lệ nợ xấu hạ nhiệt không có nghĩa rủi ro đã biến mất

Diễn biến toàn ngành cho thấy tỷ lệ nợ xấu đã bớt căng thẳng, nhưng quy mô nợ xấu vẫn đang tiếp tục phình to ra. Sau nhịp xử lý mạnh vào cuối năm 2025, tổng nợ xấu của các ngân hàng niêm yết tăng thêm hơn 28 ngàn tỷ đồng trong giai đoạn đầu năm mới, trong khi tỷ lệ nợ xấu chỉ nhích từ 1.87% lên 1.99%. Sự chênh lệch này đến từ việc dư nợ tín dụng tiếp tục mở rộng, làm cho tỷ lệ nợ xấu được pha loãng về mặt thống kê. Điều đó không làm mất đi ý nghĩa tích cực của việc NPL được kiểm soát, nhưng buộc các đánh giá cần phải thận trọng hơn. Khi mẫu số tăng nhanh, một tỷ lệ nợ xấu ổn định có thể che đi áp lực xử lý nợ vẫn còn rất lớn ở phần tử số.

Cơ chế này đặc biệt quan trọng trong ngành ngân hàng vì tín dụng vừa là động lực tăng trưởng lợi nhuận, vừa là nguồn hình thành rủi ro tương lai. Khi ngân hàng giải ngân thêm cho doanh nghiệp và cá nhân, dòng tiền mới có thể giúp khách hàng vay vượt qua giai đoạn khó khăn, từ đó làm chậm tốc độ chuyển nhóm nợ. Tuy nhiên, tín dụng mới cũng có thể trở thành một hình thức tái tài trợ nếu dòng vốn chủ yếu được dùng để đảo nợ hoặc giải quyết thanh khoản ngắn hạn. Trong bối cảnh bất động sản và tiêu dùng chưa phục hồi đồng đều, ranh giới giữa hỗ trợ khách hàng và kéo dài rủi ro là rất mong manh. Vì vậy, tỷ lệ nợ xấu hạ nhiệt chỉ thật sự có ý nghĩa tốt khi đi cùng với chất lượng tín dụng , bộ đệm dự phòng đủ dày và khả năng thu hồi nợ thực chất.

Nhóm ngân hàng quốc doanh tiếp tục là điểm neo ổn định trong bức tranh này. Các ngân hàng thuộc nhóm này duy trì tỷ lệ nợ xấu thấp hơn phần lớn hệ thống nhờ lợi thế về tập khách hàng doanh nghiệp lớn, năng lực huy động vốn tốt và khả năng trích lập dự phòng cao hơn. Nói cách khác, ưu thế của nhóm quốc doanh không phải không có nợ xấu, mà ở năng lực hấp thụ chu kỳ tín dụng dài hơn. Đây là nhóm có thể chấp nhận lợi nhuận tăng chậm hơn trong ngắn hạn để giữ bảng cân đối an toàn hơn trong dài hạn.

Ở chiều ngược lại, nhóm ngân hàng chuyên cho vay cá nhân đang phản ánh rõ hơn sức ép từ khu vực hộ gia đình. Tỷ lệ nợ xấu của nhóm này đã tăng lên 3.34% vào đầu năm 2026, cao hơn đáng kể so với nhóm quốc doanh và nhóm chuyên cho vay doanh nghiệp. Áp lực không chỉ đến từ các khoản vay tiêu dùng không tài sản bảo đảm, mà còn từ vay mua nhà, vay phục vụ kinh doanh cá nhân và các khoản vay thế chấp bằng bất động sản. Khi thu nhập của người vay phục hồi chậm hơn nghĩa vụ trả nợ, nợ xấu bán lẻ thường có độ trễ trước khi thể hiện đầy đủ trên báo cáo tài chính. Đây là lý do các ngân hàng bán lẻ cần được theo dõi qua nhiều lớp chỉ tiêu hơn, bao gồm nợ nhóm 2, chi phí dự phòng, tỷ lệ xóa nợ và khả năng thu hồi sau xử lý.

Nhóm chuyên cho vay doanh nghiệp lại có một dạng rủi ro khác. Tỷ lệ nợ xấu chung không quá cao, nhưng mức độ biến động giữa các ngân hàng khá lớn. OCB vẫn đứng ở vùng cao nhất nhóm, trong khi các ngân hàng như MSB, SHB, HDB hay SSB dao động quanh mức trên 2%. Với cho vay doanh nghiệp, chỉ một vài khách hàng lớn gặp vấn đề cũng có thể làm tỷ lệ nợ xấu thay đổi mạnh vì quy mô khoản vay thường lớn hơn nhiều so với tín dụng cá nhân. Đây là lý do cần nhìn sâu vào chiến lược phân bổ tín dụng của từng ngân hàng. Một danh mục có mức tập trung cao vào bất động sản, xây dựng, SME hoặc các doanh nghiệp phụ thuộc dòng tiền ngắn hạn sẽ nhạy cảm hơn trước chu kỳ phục hồi không đồng đều của nền kinh tế.

Câu chuyện nợ xấu phân mảnh ở từng ngân hàng

Đầu tiên, ở nhóm quốc doanh thì nợ xấu của BIDV có dấu hiệu tăng trở lại sau khi đã được kéo giảm vào cuối năm 2025. Tỷ lệ nợ xấu tăng từ 1.47% cuối năm 2025 lên 1.76% tại cuối quý 1/2026, trong khi dư nợ cho vay khách hàng chỉ tăng 2.4%, cho thấy tốc độ hình thành nợ xấu đang nhanh hơn tốc độ mở rộng tín dụng. Về quy mô tuyệt đối, tổng nợ xấu của BIDV tăng lên hơn 42,600 tỷ đồng, tăng gần 7,600–7,700 tỷ đồng so với cuối năm trước, tương đương gần 22%.

Diễn biến này cho thấy áp lực chất lượng tài sản của BIDV chưa hoàn toàn được xử lý dứt điểm, đặc biệt trong bối cảnh ngân hàng có quy mô dư nợ lớn nhất hệ thống nên chỉ một biến động nhỏ về tỷ lệ nợ xấu cũng làm phát sinh giá trị tuyệt đối rất lớn. Bên cạnh đó, tỷ lệ bao phủ nợ xấu giảm xuống 86.9% trong quý 1/2026, thấp hơn mức 99.9% cuối năm 2025, phản ánh bộ đệm dự phòng có phần mỏng hơn trước áp lực nợ xấu tăng. Tuy vậy, tỷ lệ nợ xấu 1.76% của BIDV vẫn thấp hơn mức bình quân ngành khoảng 2% theo dữ liệu so sánh của ngân hàng, nên vấn đề hiện tại không nằm ở rủi ro vượt ngưỡng an toàn, mà nằm ở xu hướng tăng nhanh của nợ xấu và khả năng tạo áp lực lên chi phí dự phòng trong các quý tiếp theo.

Trong nhóm bán lẻ, Sacombank có tỷ lệ nợ xấu đang ở vùng cao hơn các ngân hàng còn lại. Sacombank vẫn đang ở giai đoạn xử lý các tồn đọng lịch sử, trong đó phần lớn liên quan đến tài sản bảo đảm và các khoản nợ cần thời gian dài để thu hồi. Ngân hàng đặt mục tiêu giảm tỷ lệ nợ xấu trong năm 2026, đồng thời cho biết nhiệm vụ trọng tâm là tiếp tục xử lý chất lượng tài sản và các tồn đọng còn lại. Sacombank chấp nhận tăng mạnh chi phí dự phòng để củng cố bộ đệm rủi ro.. Cách xử lý này làm lợi nhuận ngắn hạn kém hấp dẫn hơn, nhưng lại giúp ngân hàng có thêm dư địa làm sạch bảng cân đối. Với một ngân hàng đang đi qua chu kỳ xử lý tồn đọng, tỷ lệ nợ xấu cao chưa phản ánh đầy đủ câu chuyện. Điều cần nhìn là ngân hàng có đủ khả năng trích lập, thu hồi nợ và chuyển hóa tài sản bảo đảm thành dòng tiền thật hay không.

Ở nhóm chuyên cho vay doanh nghiệp, OCB là trường hợp cần được theo dõi kỹ vì vừa phải xử lý tỷ lệ nợ xấu cao, vừa đặt mục tiêu tăng trưởng lợi nhuận mạnh trong năm 2026. OCB dự kiến tăng vốn điều lệ lên 30,625 tỷ đồng, đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế 6,960 tỷ đồng, tăng 39% so với năm 2025, trong khi dư nợ thị trường 1 dự kiến tăng 15%. Những mục tiêu này cho thấy ngân hàng muốn quay lại quỹ đạo tăng trưởng, nhưng việc tăng trưởng tín dụng cần đi cùng với tái cấu trúc danh mục để giảm rủi ro tập trung. Với OCB, vấn đề không chỉ là kéo NPL xuống dưới một ngưỡng mục tiêu, mà là chất lượng của phần tín dụng mới có đủ tốt để thay thế các khoản rủi ro cao trong quá khứ hay không.

Đây cũng là một đặc điểm chung của nhiều ngân hàng cho vay doanh nghiệp. Khi nền kinh tế phục hồi không đồng đều, những doanh nghiệp có dòng tiền tốt sẽ nhanh chóng lấy lại khả năng trả nợ, nhưng các doanh nghiệp phụ thuộc vào bất động sản, xây dựng hoặc chu kỳ vốn dài vẫn có thể tiếp tục tạo áp lực. Trong trường hợp đó, ngân hàng không thể chỉ dựa vào tăng trưởng tín dụng để pha loãng nợ xấu. Họ phải chuyển dịch danh mục sang nhóm khách hàng có dòng tiền ổn định hơn, giảm mức tập trung vào các nhóm ngành rủi ro và tăng nguồn thu ngoài lãi để giảm phụ thuộc vào biên lãi truyền thống. Đây là hướng mà nhiều ngân hàng đang theo đuổi, nhưng hiệu quả chỉ có thể kiểm chứng qua vài quý báo cáo tiếp theo.

Nhóm ngân hàng nhỏ khác lại là khu vực khó đánh giá nhất vì mức độ phân hóa rất cao. PGBank là một ví dụ đáng chú ý khi lợi nhuận tăng mạnh nhưng nợ xấu cũng bật lên. Theo báo cáo quý đầu năm 2026, PGBank đạt lợi nhuận trước thuế khoảng 275.7 tỷ đồng, tăng gần ba lần so với cùng kỳ và hoàn thành gần 20% kế hoạch năm. Động lực chính đến từ thu nhập ngoài lãi, trong khi thu nhập từ xử lý và thu hồi nợ xấu cũng đóng góp đáng kể. Tuy nhiên, mặt trái là nợ xấu tăng mạnh, cho thấy chất lượng lợi nhuận cần được phân tích cẩn trọng hơn thay vì chỉ nhìn vào mức tăng trưởng lợi nhuận.

Với PGBank, vấn đề nằm ở sự đánh đổi giữa lợi nhuận ngắn hạn và bộ đệm rủi ro. Ngân hàng đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế năm 2026 đạt 1,438 tỷ đồng, gần gấp đôi kết quả năm 2025, nhưng nếu lợi nhuận tăng nhờ thu ngoài lãi và chi phí dự phòng thấp hơn thì cần quan sát thêm khả năng duy trì trong các quý sau. Một ngân hàng nhỏ thường có ít lợi thế hơn trong việc lựa chọn khách hàng tốt, nên khi nợ xấu tăng, mức dự phòng và tỷ lệ bao phủ sẽ trở thành chỉ báo quan trọng. Nếu ngân hàng dùng phần lợi nhuận tăng thêm để củng cố dự phòng, rủi ro có thể được hấp thụ dần. Ngược lại, nếu ưu tiên lợi nhuận trong khi nợ xấu tiếp tục mở rộng, áp lực sẽ quay lại nhanh hơn ở các kỳ sau.

Sự khác biệt giữa STB, OCB, PGBank và ABBank cho thấy, cùng một chỉ tiêu nợ xấu có thể mang nhiều hàm ý khác nhau. Với STB, nợ xấu cao gắn với quá trình xử lý tồn đọng và tăng dự phòng. Với OCB, nợ xấu cao hơn nhóm đòi hỏi ngân hàng phải tái cấu trúc danh mục trong lúc vẫn theo đuổi mục tiêu tăng trưởng lợi nhuận. Với PGBank, lợi nhuận tăng nhanh cần được đặt cạnh các chỉ tiêu về chất lượng tài sản và mức dự phòng. Do đó, phân tích nợ xấu không nên dừng lại ở việc xếp hạng ngân hàng nào cao hơn hay thấp hơn, mà phải đi vào cơ chế vận hành phía sau con số.

Điều này cũng giải thích vì sao thị trường thường phản ứng rất khác nhau với cùng một diễn biến nợ xấu. Nợ xấu tăng không nhất thiết khiến cổ phiếu ngân hàng bị đánh giá tiêu cực nếu nhà đầu tư tin rằng ngân hàng đang chủ động xử lý và có bộ đệm đủ lớn. Ngược lại, nợ xấu giảm cũng chưa chắc là tín hiệu tích cực nếu sự cải thiện chủ yếu đến từ tăng trưởng dư nợ, giảm dự phòng hoặc chưa phản ánh đầy đủ nợ tiềm ẩn. Trong giai đoạn hiện tại, nhà đầu tư cần quan sát thêm các chỉ báo như chi phí tín dụng, tỷ lệ bao phủ nợ xấu, nợ nhóm 2, thu hồi nợ đã xử lý và cơ cấu tín dụng theo nhóm khách hàng. Đây mới là những biến số giúp đánh giá chất lượng lợi nhuận ngân hàng một cách thực chất hơn.

Bức tranh nợ xấu đầu năm 2026 cho thấy, ngành ngân hàng chưa bước ra khỏi chu kỳ xử lý rủi ro. Tỷ lệ nợ xấu vẫn duy trì ổn định, tiến trình xử lý nợ xấu được mạnh tay hơn ở các ngân hàng, nhưng tổng nợ xấu, áp lực dự phòng và sự phân hóa giữa các ngân hàng vẫn lớn. Trong giai đoạn tới, việc kiểm soát chất lượng tín dụng vì thế sẽ quan trọng hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng.

Nguồn trang báo đăng tải

FILI

Trang chủTổng hợp thị trườngThị trường HSXThị trường HNXThị trường UPCOMTin tức mới nhấtTin tức phổ biếnTin tức chứng khoánTin tức tài chính & ngân hàngTin tức bất động sảnTin tức kinh tế vĩ môTin tức doanh nghiệpTin tức thế giớiTin tức từ cộng độngWatchlistPortfolioPhân tích kỹ thuậtBảng giáCổ phiếu A-ZLọc cổ phiếuPhái sinh & Chứng quyềnCảnh báoTổng hợp thống kê thị trườngCổ phiếu trọng yếuCập nhật kết quả kinh doanhBáo cáo & DownloadTổng hợp báo cáo phân tích quýVNINDEXVN30VNXALLSHAREHNXINDEXHNX30UPINDEXHFBODEEMGHC3MDAHDMABCLASPDRMDFAFXDWCGMADNHDXVEMSFUEMAV30TTZVUAHPGPHHDNTCCIL62DCVPIVVIXAATSIDCLHTSGIFSBVNVSATTCSBMFRMDLDSFCIDPPVHTELPX1HSGMPCPV2SJGMBGHMRHSPPTTTT6CPCSCDNNTTCBACGITQHNGHECVBHLLMHMDCTFBIDHPPNSLVTDSC5HDPCCSDDNMTALO5QBSDTTPASVTRFUCTVGF5THBMACHANPLXMSHTDPL40APCDZMPECICGBKCFUEKIV30TBXALCILSPJSDAHQNSFDCKLMBSIFCNSCIDXPCH5SBTHTISJFPOSPSIAASCTXQNTCIITTPHTEDPCDCRHUBADPTSJSTTBLFPLCFUETCC50LCDTLDSJ1HHPRALCCTSSMBEDIDVVPGVNYINGHLSSSNTNWSCGTVGVCPFRCKBCITDBCONEDCTBPTEIN4TNHTSBNHAICTCIAIJCVHLFUEKIVNDVFSMSNLPTX26VDNNBEDTHTDMCATNVTHLTC32NAUPXMHC1DNMHHVTGPDP2SMNLTGTH1PHCDPSKMRBRSDRCDHTBWEUNIHWSSDCDS3NUEUPHHU4M10HEMVPSCBIPETBBHATAAVGHAXFMCMGCCAGGEGVE4TEDL14AGFPLEHFXNHHVCSFIRHQCPPHVHMVLBTC6EMECKDSBDDPPBDTCNGDKCHAFLIXVRELAIEINVIRGLWFLCHNFVC7INCMCOKMTCHCTETPMJCFMDVGH11FUEBFVNDHKTIDJBMKCEONHPKSVDFFPRTSVHEVGDMSPBTMFSSGSTANHD2NAPBCMNQNL10X77DPGBDGHAMNQTCRVHEVWCSVHGPVOCMGTKCPNCTRSVMKDTILGCLTCHMSLKWGSPHIGTBWCETTDNDOPTKUBVBAPSVIDRYGSHIG20FBADXGSHEFTMPENDXSVBTMGRNT2ATSNTTBKGNSTVE1VTXDQCRCLQHDSRFTALVGTBHKHLCVLSD17DHBFTSEIDTMWDSPADCBIOUDCTRASTPLPBBTTVTEMESMTPSBGCLWVTACKAAMSHDOIHKWTCCMNNO1HOMHHRBTHATGYBMBICELCPDVVCRPVCSDTCPIDBCCTPTDBVDPVLWCMDHTCHSICMMCNTHDBVNCVDLSZLPFLJVCBOTIBCMBTRGGGLCSAPHASLNCVTQAMVKSBNDPS74HBDSD1VMAHATDCHSPMVDGDNLVLCHU3POVVETSKGGCFSCJMELQHWBHAVPLPPEABTLICPTCNJCMTBCTDPSLHGMTNALGLHTGXMPC21SDUGTTDDBTOTDDMKHWNDWHHGNDFACMHLOAGRHGWVBGNKGX20AGPSGRASATVBVCWTV3MIGTYAACEBTGSD3FUESSV30PGBPIDTS4VGLCQNBWSVBCPHPNDTL18TR1MLCHUGHPBCMFDVWSHGMWGVEFFSOMTSNTPVGGAGXKSTVC2CKVSGBFUEVFVNDDLGCLMCDRSD7TCTLM8BCBHPMSNCCMKKSHDCFBBTOCBALTADSBSDSTBPTHDMCAPTOPCCT3DCLDTARDPV21CFVBSGHSMTCWDPHABWTBTPCEBNWDTGGMXDGTDXLDNNVNHNBBGTDPCHSZBCSMNS2DOCQCGTJCVKPCOMBSQPCTBCPPTSSCOV12PMSONWSNZDVCDP3VWSTHTHOTGELVIECHPLBCNRCTIGPSHHADTS3MASVMCFUCTVGF4SGOXMCBDWIPAPVPDSDDATRCCBSLVNIMTVVHDHCIHAVOCHTHPCAPPBPBVSCARTTLVIMKTCHU1S96KWAICCVXPCLIOILVE8MZGCK8MKVBLTDIGACBVHFHUTPPIABIPNJAAVBSRTDTABBRTBVMSSMAF88FUEIP100SJEMPYCVNDGWGASUPCVPDNTCTCRVSMRGCVGCPACBVHPTPBT6VNBDPMTSTDNPMEFVTIHBHKHPDWSCDGTQNBRCLUTDRHSTSKHXLDGEBSCTCHESDKWAPPUCTBQPSASTABVVSSIGBIGHAHCC4CSVSGCPTGAPFDDGKHLLHCBPCS4AVNRAMPNFCLCGPGIVTJVPCTVTCPHDTLCIDFUCTVGF3XMDDHCTLISHAMPTVLFAVCCABPPYVXTPVSMSTGABYTCDADTSCSP2HCBHPIMIETA3STCSDDCLLACSDCTSALQCCDP1VSGBMVDHDDTCCBSHDGSBSEFITOSAIGL63PC1BHPDHNDTKPVRDIDLECKHDBMFLAWQPHANTTTNCKGHBSPVMSRCHDSNQBFTIBCGTNITV1PLAPVBMECFUESSVFLVLATSDPHRPXTHAPPSPSJMMNDDACPAPDICVGVGICFIDVMGPMCHNRSRTDCGBBSSZGL35IMPCANACLDFCPXSVSCPSCADGTLHGDHTA6TL4PDCVC5FUEABVNDSABDSTMCMVDTTTSDNAGMHDCMHVANXTMHLTVAACVUXCTV4VCTPOTSHPTMTDBDTUGMTLTBHEICDSGMBSVQCHNDPMPVNLITSPSGAICSGDVCATQWPVVTCOTISDUSSBHCDNHRCNAWVTBVNGGVTFUESSV50BLWPCFHNMPSNHSVV15TDCLMHTNVCMVSVNPVES55TTGTLTHVNMVBSAMDNCNLSVFGASMSTLTNCKCEUDLSDVLIGSVGMCFGTAB82PDNPXIPOMVVNDTDCDPVTHMSRTKASDGPLPPNGPROSVCVDBHGTDBTLSGONEECIVGPPNDLMIDRIVE3FCCNAVNAFVMTSDADPRKKCTDWCTTCMXDBMTRTGMCKGMTNTEVEBSHSCLIDCHNIFGLNWTRBCPSDIDIAAMKSDTVMHACDASVGICSITOPVC3S27DTPDTEBSCKSQPTLFHNCRCNHTSPHVCGTTHPHNKDMTVHPXCPSWNVBDSELCMIVSLCSHJSMHCTIXVRCHMCPMTMBBNABKTWTMSCCLPHSTW3VTMSSGINNNAGLM7BSPSD4TNMAPLVPWND2PCGDGCLAFHD8TCKVFCTTDVABYBCNSGBFCFCSSRAHHBVOCNCSPPPCCVHTNSBVBWAHRTPMBBMDS99VW3PVGHTMPTXVNTS12ILCSIVBXHPCCFUEVN100E29BSASGNDSHTBRDL1JOSMTGQNCMBNSPBTHNKLBQSPMTXTB8C47HTVFHSDHPVSHDHMHPABHIVTCTIEBABCGVSIIVPXTAWCTSDSCPANPJTTCMTSAVTSGEEVNEPVYNSSQNPCE1ITAVNMSBLTV6TCJTHDCCPRATCIPMLSPGDSD9AAANTHFUEDCMIDVAFDVMVC6STDDIHORSHPHANVSDKTCDUICKOSSAFMQBLM3XDCCJCATBSAVHHNNSCHIIHPDKTSCT6RICTBDGCBSCSSEPVCKBGESGHKPFQNUBHCSCCCX8VTPVNSDMNBCEPIANCGDM7HAITDHBLNDRGSDXHNAASTSFGMVNFRTGILTNPV11CTAMVCXLVSSIVINCC1MCPSVDDLMTPBVESAFVGSSGBTBDTVPSBSDYCPAVSEWSSXPHACCTNSSHSTIPNTWDSVSWCCLCBSTBTNTINOGCMICTHMVECVE9CEGBELQTPHPXG36NCTCMPSEATVPTGGVBBGGGVJCCMCTTATKGSD6SJSAGGL43CADEVSPSETMPHMGHVXPGCDDVPXABVLPWAPWSHEPST8PCNASPPMWHARKCBHKBHIDDAECIGBTWTVDTPHL12GERSLDSSBSTHVPHVIFVIGVKCCLGVPBHJCWSBPGTD11VCCHSADC4GDAPDBCDOPGVDC2DNWSKVGTSNLGIMENDCVHHAGMVGRTMGBIIVTVPGSPTVHRBBQBGH3VHCCNNAG1VCEPVIFITDHGNHVLGMHLANDNMCCCHSVFRDHASEBTXMTTEHHCHLBUMCVCFDKGTVWKIPDLTHT1DANMTHNTLFUETPVNDNBCUDJVRGHPOSJDSCYITCHLRMA1PITTTTSBAPOBVPACI5TNGVNZGSMSD8NACETFLDWLG9FUEKIVFSSGPSVIPNTTN1VAVVIPSFITCHAMDSKHCTWAPHLQNTPSHNPALVPOWPEGVPIMCDNOSLHGTARMSBBGWVC1BVGLBETFCTDFCMTNBTAMCSDBSTKE1VFVN30PTMSGIVESPVXCCMHPTDVPUSCNEMVSNFBCYEGFUEFCV50GKMDC1NTBBBCCQTGMDDRLSSFFUEMAVNDVCBPTIHCDPNPHTLVEOFHMHAMESD5SIPSGTGHCNBPTCXEPHPPCVLPTLGBTDKDCTV2HNBAAHTDSSSCHVTNVPTLPSPCC92GVRCYCEVFSFNISHHDWHPWSZEECOVLGICFS72CDCC12HCMDCSABSDNEABRKTTBNADDHTTBMGGSBBILATEGPRCVNPSTWHTTCDHPVLSQCSMTARTCNABBMNTFPTBGLTVCMBMPBRRVSIVICBAFMDGA32HHSTNBKHGFT1HLDBHNBT1PJCTBCVNXKVCVTZSCRMDCPVTUTTCCCASGSDNMRFSPIMIMHDAREESACSPDVTLVEAFCMTHSISTCENPXLBAXGDTUPSFOXTPCKTLBDBSDJVXBBHGBLITCLKSFVC9HLYNSHMH3AANSEDBTSD2DQTCC22CSTTDGAPISHCBMJRCDPCMBCCBMGMQNMCHMEDUEMHAGSMBPQNCCAAVFSTGFUCVREITLSSCLXBMIL61TTFTMCVHEDAGLDPPTOHIOHD6VIBTMBBTBC69HDCSRBPISHVHPBCLBMPICPVACRESB1GPCVTGCAVNGCTVCCTNE12ARMISGNNCFOCEIBCMWTHUSZCAGEBHHSDPHSLTOWBMCCTIBMSMKPVCXSMCBALUSDTRVCTRDSNTVSPTNHCTXHCHEJDVTFPTSKNBMNTVNCMSTCIVMDDNDPATHCCNETVITNASSHXBCRL45PMGDVNCNCCTGVPRSHBGDWVIHLMCNBWSBRBTUQNWPLOHVGBTPPEQKDHKHSNDXVDSGNDSJCTA9VIWKACVSFL44VE2NVLSHNICNCMIGEXMTCXDHNHCEPCHBCTHWKLFAPGBCFILBKSSTMXPPTPAIVCIPGNHFCTPPCCRSSHVNFPVDCVTFICVSTTRCBCAPTDHU6IRCBCVPPSQSTMMLLCCDLRVNAMCGVTOSVTC4GVTKSD2SLSPREHTPICITD6CSCSPVTHGTIDMNBDTBEGLVOSBTVVNDIBDNasdaq 100FTSE 100Hang Seng FuturesKOSPI 200 FuturesKOSPIShanghaiS&P 500US Dollar IndexCAC 40Dow 30DAXNikkei 225Hang SengVinFastDAX FuturesNasdaqFTSE 100 FuturesChina A50 FuturesS&P 500 FuturesCAC 40 FuturesNikkei 225 FuturesDow 30 FuturesNasdaq FuturesChina A5041I2GC000VN100F2Q41I2G9000VN100F1Q41I1G9000VN30F1Q41I2G7000VN100F2M41I1GC000VN30F2Q41I1G6000VN30F1M41I1G7000VN30F2M41I2G6000VN100F1MCSSB2602CACB2606CVNM2602CSTB2519CSHB2515CMBB2608CMBB2520CSTB2604CVIC2516CACB2517CTPB2510CHPG2609CTPB2506CSTB2525CHPG2605CVPB2601CVHM2525CMSN2603CFPT2605CFPT2529CVJC2506CVIB2601CHPG2525CVJC2507CTPB2601CHDB2510CDGC2601CFPT2517CVNM2521CFPT2602CVRE2601CSTB2605CMBB2603CVHM2606CTCB2602CFPT2524CSTB2601CSTB2606CMWG2608CMWG2609CACB2510CHPG2540CSTB2532CFPT2609CSTB2524CTPB2605CLPB2602CACB2605CFPT2528CHDB2601CMWG2526CVNM2515CACB2518CTCB2603CHDB2602CVNM2523CSTB2538CFPT2520CACB2602CSTB2527CVIC2514CMSN2605CTCB2520CVIB2508CFPT2518CVNM2603CLPB2510CDGC2501CTCB2522CMBB2517CMBB2601CTCB2601CVNM2522CSTB2607CTPB2511CVPB2524CVPB2521CTPB2603CMBB2606CVHM2607CVPB2605CVIC2517CACB2604CVHM2608CMWG2518CVIB2604CVHM2605CMSN2609CMWG2527CVHM2603CVRE2603CVPB2603CFPT2608CVRE2524CVHM2524CLPB2509CVPB2604CVHM2601CHPG2604CSHB2514CMBB2605CFPT2532CHPG2530CSHB2601CMWG2525CTCB2521CSSB2509CMBB2604CVRE2520CVPB2526CHPG2536CVHM2602CFPT2526CMBB2609CMWG2607CMBB2602CHDB2509CHPG2523CVRE2516CMSN2522CHPG2612CHPG2532CSTB2603CHPG2606CSHB2602CVPB2602CMBB2524CLPB2601CTCB2606CACB2601CHPG2534CHPG2608CSTB2537CMSN2521CFPT2606CVPB2606CFPT2610CVHM2520CMSN2520CMWG2522CMSN2604CFPT2604CSTB2602CMSN2523CACB2603CVPB2607CVRE2521CHDB2508CVIB2603CVPB2527CVPB2531CHPG2542CVIB2602CVHM2516CTCB2512CMWG2528CTCB2605CMWG2524CVPB2528CHPG2610CHPG2601CVHM2604CVIB2513CMSN2606CMBB2522CMSN2608CACB2515CVRE2526CHPG2607CFPT2601CTCB2523CSHB2603CVPB2532CHPG2602CTCB2524CMWG2516CVIB2512CMSN2516CFPT2533CVRE2527CHPG2603CMWG2605CSTB2521CMSN2601CMWG2604CVPB2533CACB2514CVRE2519CMWG2603CHPG2524CSTB2536CFPT2534CVPB2608CHPG2531CVRE2602CHPG2541CMBB2521CVNM2604CMWG2601CHPG2539CTPB2604CTCB2604CSHB2605CMWG2515CVNM2605CMBB2516CACB2511CMWG2602CFPT2521CLPB2503CFPT2607CSTB2530CVPB2522CHPG2538CVIC2515CVHM2523CMBB2523CVRE2525CMSN2602CVNM2520CVJC2601CSTB2533CVNM2524CVHM2609CVIC2601CVIB2514CACB2516CVPB2516CFPT2603CMBB2607CVHM2522CTPB2602CVNM2601CMWG2606CMWG2610CTCB2517